Điều trị sớm nhịp nhanh nhĩ

Điều trị sớm nhịp nhanh nhĩ

Điều trị cơn nhịp nhanh nhĩ chủ yếu bằng cách kiểm soát nút nhĩ thất. Một số loại thuốc thường được kê cho người bệnh mắc nhịp nhanh nhĩ là thuốc chống loạn nhịp, có thể kết hợp với thuốc chẹn kênh calci hoặc thuốc chẹn beta.

Điều trị sớm nhịp nhanh nhĩ

Điều trị sớm nhịp nhanh nhĩ

Nhịp nhanh nhĩ là gì?

Bình thường, nhịp tim được duy trì và điều khiển bởi hệ thống điện tim (các tín hiệu điện xuất phát từ nút xoang làm tâm nhĩ co bóp, sau đó đi qua nút nhĩ – thất đến các cơ tâm thất và làm cho buồng tim này co bóp). Nhịp nhanh nhĩ xảy ra khi có sự rối loạn trong hoạt động điện tim, làm cho buồng trên của tim đập nhanh và hỗn loạn.

Ở người trưởng thành, nhịp tim nhanh được định nghĩa là tim đập trên 100 bpm (100 nhịp mỗi phút). Ở trẻ em, định nghĩa nhịp tim nhanh khác hơn một chút do nhịp tim bình thường phụ thuộc vào độ tuổi, cụ thể như sau:

Nhịp nhanh nhĩ có thể gặp ở những người có cấu trúc tim bình thường và bất thường do bệnh tim bẩm sinh hoặc do phẫu thuật tim.

Ở những người có cấu trúc tim bình thường, nhịp nhanh nhĩ liên kết với tỷ lệ tử vong thấp. Những người có cấu trúc tim bất thường, mắc bệnh tim bẩm sinh hoặc bệnh phổi ít có khả năng chịu đựng loại rối loạn nhịp tim này.

Nhịp nhanh nhĩ có những loại nào?

Có rất nhiều cách phân loại rung nhĩ, như dựa vào nguồn gốc, tính chất cơn…

Phát sinh từ một khu vực trong tâm nhĩ, ví dụ như mào tận cùng (crista terminalis), tĩnh mạch phổi, lỗ xoang tĩnh mạch vành hoặc vách ngăn nội tâm nhĩ.

Thường xảy ra ở những người có cấu trúc tim bất thường hoặc bị bệnh tim phức tạp, đặc biệt là sau phẫu thuật có vết mổ hoặc sẹo ở tâm nhĩ.

Ngoài ra, nhịp nhanh nhĩ còn được phân loại dựa trên cơ chế sinh lý bệnh hoặc giải phẫu học.

Nguyên nhân gây nhịp nhanh nhĩ

Nhịp nhanh nhĩ có thể gặp ở những người có cấu trúc tim bất thường, bình thường hoặc bị bệnh tim. Nếu xảy ra ở người có bệnh tim bẩm sinh đã trải qua phẫu thuật tim, nhịp nhanh nhĩ có thể dẫn đến những biến chứng đe dọa tính mạng.

Cơn nhịp nhanh nhĩ có thể xuất hiện khi người bệnh có các hoạt động thể dục, mắc bệnh cấp tính gây tăng quá mức catecholamine, uống rượu, thiếu oxy trong máu, rối loạn chuyển hóa hoặc sử dụng chất kích thích (như caffeine, abuterol, thophylline, cocaine)…

Nhịp nhanh nhĩ đa ổ thường có liên quan đến các bệnh lý khác, chẳng hạn như mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bị thuyên tắc động mạch phổi hoặc bị suy tim cấp nặng… Nhịp nhanh nhĩ đa ổ thường xuất hiện cùng với tình trạng thiếu oxy trong máu và thần kinh giao cảm bị kích thích.

Các dấu hiệu và triệu chứng của nhịp nhanh nhĩ

Dấu hiệu của nhịp nhanh nhĩ bao gồm:

– Nhịp tim nhanh xuất hiện trong hầu hết các trường hợp mắc bất thường nhịp tim ở tâm nhĩ

– Nhịp tim nhanh từng hồi hoặc nhanh kịch phát hoặc nhanh dần lên

– Đánh trống ngực đột ngột

– Khó thở, chóng mặt, mệt mỏi, tụt huyết áp nặng, ngất xỉu

– Các triệu chứng của suy tim (ho, phù, khó thở, đau tức ngực) và suy giảm khả năng chịu đựng của cơ thể

Quản lý bệnh nhịp nhanh nhĩ

Điều trị cơn nhịp nhanh nhĩ chủ yếu bằng cách kiểm soát nút nhĩ thất. Một số loại thuốc thường được kê cho người bệnh mắc nhịp nhanh nhĩ là thuốc chống loạn nhịp, có thể kết hợp với thuốc chẹn kênh calci hoặc thuốc chẹn beta.

Sử dụng thuốc verapamil, thuốc chẹn beta và adenosine

Thuốc chẹn beta với tỷ lệ điều trị thành công thấp

Giúp tái cấu trúc nhịp tim

Triệt đốt rối loạn nhịp tim bằng năng lượng sóng có tần số radio

Áp dụng cho bệnh nhân mắc tim bẩm sinh

Điều trị nhịp nhanh nhĩ đa ổ có liên quan đến việc điều trị các bệnh lý thường gặp đi kèm đã nói ở trên, kết hợp với một số phương pháp dưới đây:

– Thuốc chẹn kênh calci được dùng đầu tiên

– Magnesium sulfate giúp cân bằng kali máu

– Thuốc chẹn beta

– Thuốc chống loạn nhịp

Nhìn chung, người bệnh nhịp nhanh nhĩ nếu có cấu trúc tim bất thường thì tỷ lệ tử vong thấp. Nếu có các vấn đề khác về tim, phổi, ít có khả năng chịu đựng, thì tỷ lệ tử vong khá cao. Trong trường hợp mắc nhịp nhanh nhĩ đa ổ, tuổi thọ của người bệnh sẽ phụ thuộc vào điều kiện khác như bệnh thuyên tắc phế quản phổi mạn tính, suy hô hấp, đột quỵ, nhồi máu cơ tim.